Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu

Bốn bài viết nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính

Giữa Năm 1949, Khi Cuộc Kháng Chiến Chống Thực Dân Pháp Đang Ở Vào Giai Đoạn Gay Go, Ác Liệt, Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Với Bút Danh Lê Quyết Thắng, Viết 4 Bài Báo Nổi Tiếng Đăng Báo Cứu Quốc: “Thế Nào Là Cần”, Đăng Ngày 30-5-1949; “Thế Nào Là Kiệm”, Đăng Ngày 31-5-1949; “Thế Nào Là Liêm”, Đăng Ngày 1-6-1949; “Thế Nào Là Chính”, Đăng Ngày 2-6-1949 (Xem Cuốn “Hồ Chí Minh – Về Vấn Đề Giáo Dục”, Nxb Giáo Dục, Hà Nội – 1990, Từ Trang 80 Đến 91). Vì Sao Bác Hồ Đề Ra Khẩu Hiệu: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính”? Vì Cần, Kiệm, Liêm, Chính Là Nền Tảng Của Đời Sống Mới, Nền Tảng Của Thi Đua Ái Quốc. Tư Tưởng Của Bác Hồ Về Cần – Kiệm – Liêm – Chính Trong 4 Bài Báo Ấy, Đến Nay Vẫn Còn Nguyên Giá Trị Nhân Văn Và Tính Thời Sự Nóng Hổi, Rất Bổ Ích, Thiết Thực Đối Với Mỗi Cán Bộ – Đảng Viên Và Toàn Dân.

Trong Việc Đẩy Mạnh Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Qua Tuần Báo Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh, Xin Giới Thiệu Về 4 Bài Viết Nổi Tiếng Nói Trên Của Bác.

Bài 1:

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chữ “cần”

Bài “Thế nào là Cần” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với bút danh Lê Quyết Thắng, đăng báo Cứu Quốc, ra ngày 30/5/1949. Đây là bài đầu tiên trong số 4 bài viết liên hoàn, nổi tiếng của Bác về Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Mở đầu bài viết này, Bác Hồ giải thích ngay về chữ “Cần”: “Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai”. Bác diễn giải thêm: “Người Tàu có câu: Không có việc gì khó, chỉ e ta không siêng./ Tục ngữ ta có câu: Nước chảy mãi, đá cũng mòn. Kiến tha lâu, cũng đầy tổ./ Nghĩa là Cần thì việc gì, dù khó mấy, cũng làm được”. Rồi Bác nói cụ thể hơn về chữ “Cần”, bằng những câu văn rất ngắn gọn, lời lẽ giản dị như cách nói của quần chúng, ý nghĩa rất rõ ràng: “Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm thì có lúa tốt…/ Siêng học tập thì mau tiến./ Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến./ Siêng làm thì nhất định thành công. Siêng hoạt động thì sức khỏe./ Điều đó cũng rất dễ hiểu”. Và Bác mở rộng ý nghĩa của chữ “Cần”, với những nội dung thiết thực: “Chữ Cần chẳng những có nghĩa hẹp, như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai. Nó lại có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần./ Người siêng năng thì mau tiến bộ./Cả nhà siêng năng thì chắc no ấm./ Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh./ Cả nước siêng năng thì nước giầu mạnh”.
Bốn bài viết nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính
Không phải chỉ riêng cần cù, siêng năng mà đã làm tốt được các công việc; Cần phải gắn liền với các điều khác mới đạt kết quả tốt. Để chữ Cần có nhiều kết quả hơn, Bác dạy là phải có kế hoạch cho mọi công việc, nghĩa là: “phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng”. Ở đây, Bác không dùng từ “tư duy”, không dùng khái niệm “tính khoa học”, mà diễn giải hai điều ấy một cách rất cụ thể, dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của đại đa số cán bộ – đảng viên và nhân dân lúc bấy giờ. Bác nêu một thí dụ: “Người thợ mộc muốn đóng một cái tủ. Trước hết, anh ta mài sẵn cưa, bào, tràng, đục, vân vân, và sắp xếp có thứ tự hẳn hoi. Rồi anh ta lấy gỗ vừa đủ làm cái tủ. Khi các thứ đều sẵn sàng, anh ta bắt tay vào việc đóng tủ./ Như thế là anh thợ mộc ấy làm việc có kế hoạch. Như thế là anh ấy không hao thì giờ, tốn lực lượng (tức là sức lực – ĐNĐ), mà việc lại mau thành. Nếu anh ấy không sắp đặt sẵn sàng trước, khi cần đến cưa mới chạy đi tìm cưa, khi cần đến đục thì phải chạy đi tìm đục. Như vậy thì mất công chạy lăng xăng cả ngày, mà công việc làm được thì ít”. Từ thí dụ ấy, Bác kết lại: “Việc to, việc nhỏ, muôn việc đều như vậy./ Vì vậy, siêng năng và kế hoạch phải đi đôi với nhau”.
Đọc thêm

Một vài quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tiết kiệm chống tham nhũng

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí, chống bệnh quan liêu. Bởi những điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ trong kháng chiến chống xâm lược giành độc lập dân tộc mà còn trong hòa bình, xây dựng và kiến thiết nước nhà. Vì vậy Người đã có nhiều bài nói, bài viết về những vấn đề đó. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin nêu một vài quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tiết kiệm.

Ngày 3-9-1945, chỉ một ngày sau khi thành lập nước, hoàn cảnh đất nước đang chồng chất khó khăn và thiếu thốn do hậu quả của chế độ thực dân và phong kiến để lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khi nói về những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người nhấn mạnh: “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập.
Một vài quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tiết kiệm chống tham nhũng
Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, kiệm, liêm, chính”(1)

Trong lúc thực dân Pháp tấn công lên Việt Bắc, các cơ quan Trung ương phải di chuyển nhiều, đòi hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh phải tập trung nhiều tâm trí cũng như thời gian cho cuộc kháng chiến, nhưng tháng 3-1947 Người vẫn dành thời gian hoàn thành tác phẩm Đời sống mới, trong đó Người yêu cầu, nhắc nhở các cấp, các ngành, toàn thể nhân dân thực hiện đời sống mới vì “thực hành đời sống mới là một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc”(2). Và thực hành đời sống mới chính là thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của đạo đức cách mạng, đạo đức của người cách mạng. Thực hành cần, kiệm, liêm, chính lúc này không còn là khẩu hiệu chung chung nữa mà nó phải được cán bộ, đảng viên thực hiện và tuyên truyền sâu rộng trong các cấp, các ngành, trong toàn thể nhân dân thực hiện. Giữa năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết cuốn “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” bằng 4 bài báo với bút danh Lê Quyết Thắng, đăng báo Cứu Quốc để giáo dục đạo đức cho cán bộ đảng viên và toàn thể nhân dân. Trong bài “Kiệm” là một trong 4 bài của cuốn sách trên, trả lời cho câu hỏi Kiệm là thế nào? Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa: “là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”(3) Người cũng giải thích: Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.
Đọc thêm

Thứ Bảy

Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc

Ngày này của 106 năm về trước (5/6/1911), người thanh niên trẻ Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước với bao niềm trăn trở, Người luôn tâm niệm một hoài bão lớn lao là làm thế nào để cứu nước, cứu dân...."Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho cho đồng bào tôi. Đó là tất cả những gì tôi hiểu, là tất cả những gì tôi muốn"....

Con nguời ấy là Hồ Chí Minh. Dân tộc ấy là dân tộc Việt Nam. Thời đại ấy là thời đại quá độ toàn thế giới từ chủ nghĩa tư bản đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp ấy là sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người trong thế giới thứ ba và thế giới.
Những bữa cơm thời con gian khó của dân tộc
Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp đó là bốn nhân tố lịch sử tác động qua lại đa dạng và quện chặt vào nhau, bắt đầu từ một con người và cuối cùng thể hiện trong một sự nghiệp. Đồng chí Lê Duẩn đã nói trong tác phẩm “dưới lá cờ vẻ vang” năm 1976 “mỗi bước đi của nhân dân ta và của Đảng ta trong 40 năm qua đếu gắn liền với cuộc đời cách mạng vô cùng sôi nỏi đẹp đẽ của Hồ Chủ Tịch. Toàn bộ hoạt động của Người cùng với sự nghiệp của nhân dân ta và Đảng ta là một thiên anh hùng ca bất diệt của cách mạng Việt Nam”.

Mỗi bước đi của nhân dân ta đất nước ta đều gắn liền với cuộc đời hoạt động của Người. Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm có ý chí quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước cứu dân thoát khỏi xiềng xích của chủ nghĩa thực dân, giành lại độc lập tự do cho tổ quốc. Trên thực tế người đã thành công trong việc tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Đó là con đường chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới do Lênin chỉ dẫn. Trải qua bao biến cố thăng trầm Người đã trở thành vị lãnh tụ vĩ đại, người anh hùng giải phóng dân tộc, vị cha già kính yêu của nhân dân Việt Nam, là người thuyền trưởng chèo lái kiên cường con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao thác ghềnh để cuối cùng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và rồi cập bến vinh quang. Chọn một đời Hồ Chí Minh người con ưu tú của dân tộc ta đã cống hiến và hy sinh tất cả cho độc lập tự do của đất nước, “chỉ biết quên mình cho hết thảy, như dòng sông chảy nặng phù sa”

Chỉ biết quên mình cho hêt thảy/ Như dòng sông chảy nặng phù sa

Trong mọi giai đoạn lịch sử cách mạng Việt Nam luôn luôn in đậm dấu ấn của Người. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh- Người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta nhân dân ta non sông đất nước ta”.

Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, là người thầy vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, là người con ưu tú của dân tộc Việt Nam. Trải qua hơn 60 năm đấu tranh cách mạng bất khuất kiên cường, đầy gian khổ, hi sinh, chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng loài người; sự nghiệp đấu tranh vì tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời cao đẹp, phẩm chất đạo đức cách mạng của Người mãi mãi là tấm gương sáng, là niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam trong mọi thời đoạn lịch sử.

Trong mỗi bước đi lên của nhân dân ta, của Đảng ta đều in trọn dấu ấn của Người- với tư cách là người dẫn đường, lãnh đạo và là linh hồn của cách mạng Việt Nam.

ThảoPhương (Thethaovietnam.vn)
Đọc thêm

Những tháng ngày bên Bác Hồ

Anh Vũ Kỳ thường chuẩn bị tư­ tưởng cho chúng tôi. Tuổi già dễ sinh khó tính mà Bác đã ngoài 70. Song suốt hơn 11 năm phục vụ Bác, tôi không thấy Bác gắt gỏng lần nào. Ai có thiếu sót, Bác đều ân cần chỉ dẫn.

Trong cuộc sống cũng như­ trong công việc, Bác có phong độ ung dung, thư­ thái, khẩn trư­ơng nhưng không vội vàng. Hôm xảy ra sự kiện vịnh Bắc Bộ (năm 1964), tôi đang chuẩn bị theo Bác sang đọc tin bên nhà sàn thì đồng chí Võ Nguyên Giáp gọi điện thoại cho Bác. Cuộc báo cáo ngắn xong, Bác bình thản ung dung trên đư­ờng sang nhà sàn. Buổi làm việc vẫn diễn ra bình thường.
Những tháng ngày bên Bác Hồ
Đừng thần thánh Bác Hồ. Bác Hồ không phải là ông thánh, nhưng là người tất cả vì dân vì nước, mọi việc lớn nhỏ đều vì nước vì dân. Các bác sĩ hội đồng sức khỏe không ai nỡ khuyên Bác bỏ thuốc lá vì là một thú vui riêng từ nhiều năm, từ tuổi trẻ. Thấy Bác ho nhiều bác sĩ chỉ khuyên Bác hút bớt thuốc lá, nhưng tự Bác đã bỏ thuốc. Bỏ một thói quen từ nhiều năm, một người không có những thú vui riêng, một người thường ngồi làm việc một mình, suy nghĩ một mình đâu phải là dễ. Cuối buổi làm việc, trước khi ăn bữa sáng, Bác thường uống một tách cà phê. Hôm đó tôi làm việc với Bác, khi anh em đư­a cà phê vào, Bác đẩy tách cà phê sang tôi và nói: "Chú uống đi", "Dạ để mời Bác uống", "Uống cà phê Bác lại nhớ tới thuốc lá, chú cứ uống đi". Tôi uống chén cà phê thấy đắng hơn.

Bác Hồ tiết kiệm, cũng cần hiểu tiết kiệm của Bác. Một buổi sáng làm việc với Bác bên d­ưới nhà sàn, tôi đã chuẩn bị tài liệu và một chiếc bút chì xanh đỏ để trên bàn, ra ngoài một lát trở vào không biết anh nào đã cầm cây bút đi mất. Tìm không thấy mà Bác đang ngồi chờ, tôi lục ống bút chì chỉ còn một mẩu xanh đỏ bằng ngón tay, đành phải cầm vậy. Sang đọc tài liệu đến chỗ cần đánh dấu, tôi cẩn thận cầm kín mẩu bút trong lòng bàn tay, sợ Bác nhìn thấy. Lần thứ hai, Bác phát hiện. Bác với tay lấy cây bút xanh đỏ trong ống bút của Bác đ­ưa cho tôi và vẫn nhẹ nhàng bảo: "Làm gì mà chú phải khổ sở thế!".
Đọc thêm

Lần cuối cùng Bác muốn vào Nam, đọc rơi nước mắt

“Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”. Năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Năm 1962, Bác tiếp đoàn đại biểu Mặt trận do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu ra thăm miền Bắc. Bác rất xúc động khi được nghe các đại biểu kể về tinh thần bất khuất, bám đất giữ làng của đồng bào miền Nam.

Giờ phút chia tay ai cũng bùi ngùi xúc động. Sau khi nhận những món quà của đồng bào miền Nam, Người xúc động nói: “Bác chẳng có gì tặng lại đồng bào miền Nam cả, Bác chỉ có cái này” -  Bác đặt tay lên trái tim mình và nói: “Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”.
Bác ôm hôn ông Nguyễn Văn Hiếu, Thư  ký Ủy ban Trung ương
Thay mặt 14 triệu đồng bào miền Nam, Đoàn yêu cầu Trung ương: “Phải cố gắng giữ gìn sức khỏe của Bác cho thật tốt, để đồng bào miền Nam có thể được gặp Người khi nước nhà hoàn toàn thống nhất”.

Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc. Đó là ngày 20/10/1962.

Trước đó, năm 1946, khi kháng chiến nổ ra ở miền Nam, Bác khẳng định: “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Đọc thêm

Thứ Tư

26 câu nói nổi tiếng nhất của Hồ Chủ Tịch vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay

Dưới đây là những câu nói nổi tiếng nhất của Bác trong suốt cả cuộc đời hi sinh vì cách mạng dân tộc và vẫn còn nguyên vẹn giá trị cho đến ngày hôm nay.

Bác Hồ tên thật là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 và mất ngày 2 tháng 9 năm 1969. Bác đã trở thành một vĩ nhân, một huyền thoại bất tử trong lòng mỗi người dân Việt Nam và mỗi khi nhớ đến chủ tịch Hồ Chí Minh người dân Việt Nam lại gọi Bác với những cái tên đầy âu yếm cũng như sự kính trọng và biết ơn vô ngàn như "Cụ Hồ, Hồ Chủ tịch, người cha già dân tộc". Dưới đây là những câu nói nổi tiếng nhất của Bác trong suốt cả cuộc đời hi sinh vì cách mạng dân tộc và vẫn còn nguyên vẹn giá trị cho đến ngày hôm nay.

Các bạn đọc hãy cùng tìm hiểu về sự sâu sắc trong từng lời dạy của Bác dưới đây nhé!

26 câu nói nổi tiếng nhất của Hồ Chủ Tịch vẫn để lại những bài học sâu sắc cho đến ngày nay
1. "Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu"

2. "Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể"

3. "Tôi khuyên các bạn là chớ đặt những chương trình kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được. Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần đến khó, từ thấp dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi hơn là một trăm chương trình to tát mà không làm được"
Đọc thêm

Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ta cũng thấy Hồ Chí Minh chỉ ra một cách giải quyết vấn đề phát triển có tình có lý và trước bất cứ đối tượng, đối phương, đối địch với cách mạng là ai, là đế quốc thực dân gì, thì Hồ Chí Minh luôn có một cách ứng xử thích hợp vì sự tôn trọng những giá trị chung của nhân loại đó là tự do, bình đẳng, hòa bình và phát triển, vì tương lai của mỗi con người và mỗi dân tộc.

Hồ Chí Minh với tư duy độc lập, tự chủ trên con đường tìm đường cứu nước, đầu những năm 20 của thế kỷ XX, đã sớm nhận ra quỹ đạo của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, cũng như rất nhiều dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc đều: “Nằm trong một thời đại mà ý muốn của nhân dân là nắm quyền tự quyết”.
Bác Hồ tại Đại hội Đảng Cộng sản Pháp (1920)
Đây là nhận thức có tính chất tổng kết sau những năm đầu tìm hiểu khắp các châu lục về đời sống nhân dân lao động dưới sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân trên phạm vi quốc tế.

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã thể hiện quan điểm trên ngay trong những bài báo đầu tiên của Người khi bảo vệ các quyền tự do dân chủ của nhân dân An Nam trên báo chí Pháp, cùng với sự kiện gửi đơn chính thức yêu cầu Chính phủ Pháp cần có cải cách dân chủ cho người An Nam ở Hội nghị Hòa bình tại Véc-xây năm 1919.

Việc Nguyễn Ái Quốc thay mặt nhân dân An Nam gửi yêu sách đến Hội nghị Hòa bình của các nước đồng minh tại Véc-xây năm 1919, cũng chính thức đưa Nguyễn Ái Quốc trở thành người đại diện chính thức của nhân dân Việt Nam trước đại diện các thế lực thực dân cả ở thuộc địa và ngay tại nước Pháp.
Đọc thêm