Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong cách ứng xử Bác Hồ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong cách ứng xử Bác Hồ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy

Lần cuối cùng Bác muốn vào Nam, đọc rơi nước mắt

“Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”. Năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Năm 1962, Bác tiếp đoàn đại biểu Mặt trận do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu ra thăm miền Bắc. Bác rất xúc động khi được nghe các đại biểu kể về tinh thần bất khuất, bám đất giữ làng của đồng bào miền Nam.

Giờ phút chia tay ai cũng bùi ngùi xúc động. Sau khi nhận những món quà của đồng bào miền Nam, Người xúc động nói: “Bác chẳng có gì tặng lại đồng bào miền Nam cả, Bác chỉ có cái này” -  Bác đặt tay lên trái tim mình và nói: “Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”.
Bác ôm hôn ông Nguyễn Văn Hiếu, Thư  ký Ủy ban Trung ương
Thay mặt 14 triệu đồng bào miền Nam, Đoàn yêu cầu Trung ương: “Phải cố gắng giữ gìn sức khỏe của Bác cho thật tốt, để đồng bào miền Nam có thể được gặp Người khi nước nhà hoàn toàn thống nhất”.

Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc. Đó là ngày 20/10/1962.

Trước đó, năm 1946, khi kháng chiến nổ ra ở miền Nam, Bác khẳng định: “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Đọc thêm

Bác Hồ và những câu chuyện ứng xử ngoại giao đáng học tập

Chủ tịch Hồ Chí Minh không câu nệ về “đối đẳng chức vụ”, không bị ràng buộc bởi nghi thức ngoại giao mà luôn chủ động, linh hoạt và hết sức chú trọng đến mục tiêu, hiệu quả của công tác đối ngoại. Đúng như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét: “Sự ứng xử linh hoạt của Hồ Chí Minh trong giao tiếp ngoại giao đã trở thành những câu chuyện huyền thoại”.

Dù người đối thoại là Nguyên thủ quốc gia, lãnh tụ Đảng, chính khách, trí thức hay chỉ là người công nhân, nông dân bình thường, Hồ Chí Minh cũng luôn chủ động trong ứng xử. Sự chủ động đó vừa tự nhiên, bình dị, chân thành vừa ân cần tế nhị, được thể hiện hết sức sinh động và phong phú trong tư thế chủ động, với ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn và dễ hiểu, với nụ cười luôn đem lại sự bất ngờ làm xóa nhòa mọi khoảng cách, đem lại hiệu quả cao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông
Ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên là Thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nhấn mạnh tới điều này khi kể câu chuyện Bác đối phó với Tướng Tiêu Văn của quân đội Tưởng Giới Thạch khi chúng âm mưu thực hiện kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” tháng 9/1945: “Bác bước nhanh vào phòng khách của Lãnh sự quán như bước vào chốn quen thuộc đã từng lui tới nhiều lần… Tiêu Văn đang ngồi, vội đứng lên đón Bác. Hình như những bước đi thoải mái, tự nhiên và nụ cười rộng mở, đầy chân tình của Bác, tất cả nói lên nhiệt tình của người chủ hiếu khách, như thể Bác chờ đợi cuộc gặp gỡ này từ lâu, đã làm cho Tiêu Văn có phản ứng bất giác đó”.

Đọc thêm

Thứ Sáu

Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh Câu chuyện huyền thoại

Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam, là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình đưa Việt Nam trở thành nước độc lập, tự do, Hồ Chí Minh không chỉ là một chính trị gia sắc sảo, một vị tướng tài ba, nhà văn hóa lớn mà còn là một nhà ngoại giao tài tình. Ngoại giao Hồ Chí Minh đã đặt nền móng vững chắc và là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của ngoại giao Việt Nam từ khi thành lập đến nay.

Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện tầm vóc, trí tuệ lớn lao và tình cảm sâu sắc của Người trong những mối quan hệ hết sức đa dạng, phong phú đối với mọi lớp người ở các cương vị và thuộc các dân tộc khác nhau.
Hồ Chủ tịch tới thăm, nói chuyện thân mật và chụp ảnh lưu niệm với Việt kiều và các bạn người Pháp ở Bagatelle năm 1946. (Nguồn: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh không câu nệ về “đối đẳng chức vụ,” không bị ràng buộc bởi nghi thức ngoại giao mà luôn chủ động, linh hoạt và hết sức chú trọng đến mục tiêu, hiệu quả của công tác đối ngoại. Đúng như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét: “Sự ứng xử linh hoạt của Hồ Chí Minh trong giao tiếp ngoại giao đã trở thành những câu chuyện huyền thoại.”

Dĩ bất biến, ứng vạn biến

Trong đàm phán ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh giữ vững nguyên tắc nhưng về sách lược Người rất khôn khéo, mềm dẻo và linh hoạt “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, biết mình, biết người, biết thời thế để đạt được mục tiêu cao nhất.
Sau cách mạng tháng Tám 1945 chính quyền cách mạng non trẻ của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, phải cùng lúc đối mặt với thù trong giặc ngoài. Nhằm giữ vững chính quyền, phương châm của Người là: Găng nhưng không được bể...Chúng ta sẵn sàng nhân nhượng để có một giải pháp chung. Song, độc lập quốc gia và tự do dân tộc thì không được vi phạm.
Đọc thêm

Thứ Tư

Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ta cũng thấy Hồ Chí Minh chỉ ra một cách giải quyết vấn đề phát triển có tình có lý và trước bất cứ đối tượng, đối phương, đối địch với cách mạng là ai, là đế quốc thực dân gì, thì Hồ Chí Minh luôn có một cách ứng xử thích hợp vì sự tôn trọng những giá trị chung của nhân loại đó là tự do, bình đẳng, hòa bình và phát triển, vì tương lai của mỗi con người và mỗi dân tộc.

Hồ Chí Minh với tư duy độc lập, tự chủ trên con đường tìm đường cứu nước, đầu những năm 20 của thế kỷ XX, đã sớm nhận ra quỹ đạo của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, cũng như rất nhiều dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc đều: “Nằm trong một thời đại mà ý muốn của nhân dân là nắm quyền tự quyết”.
Bác Hồ tại Đại hội Đảng Cộng sản Pháp (1920)
Đây là nhận thức có tính chất tổng kết sau những năm đầu tìm hiểu khắp các châu lục về đời sống nhân dân lao động dưới sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân trên phạm vi quốc tế.

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã thể hiện quan điểm trên ngay trong những bài báo đầu tiên của Người khi bảo vệ các quyền tự do dân chủ của nhân dân An Nam trên báo chí Pháp, cùng với sự kiện gửi đơn chính thức yêu cầu Chính phủ Pháp cần có cải cách dân chủ cho người An Nam ở Hội nghị Hòa bình tại Véc-xây năm 1919.

Việc Nguyễn Ái Quốc thay mặt nhân dân An Nam gửi yêu sách đến Hội nghị Hòa bình của các nước đồng minh tại Véc-xây năm 1919, cũng chính thức đưa Nguyễn Ái Quốc trở thành người đại diện chính thức của nhân dân Việt Nam trước đại diện các thế lực thực dân cả ở thuộc địa và ngay tại nước Pháp.
Đọc thêm