Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm

Giá dầu sẽ chỉ còn... 10 USD/thùng vì xe điện và Trung Quốc?

Theo CEO của Longview Economics, xu hướng xe điện được chấp nhận một cách nhanh chóng có thể khiến giá dầu rớt xuống 10 USD/thùng trong thời gian chưa tới một thập kỷ.

Xe điện đang có được sức hút. Dù ở thời điểm hiện tại chúng chỉ chiếm một phần nhỏ trên thị trường xe hơi, nhưng càng ngày càng có nhiều nhà phân tích bắt đầu tin rằng xe điện sẽ nhanh chóng có được một vị trí vững chắc trong thập kỷ tới và mang lại những “bất ngờ” lớn cho thị trường dầu mỏ .

Đã có sự thay đổi sâu sắc trong một hoặc hai năm qua. Từ chỗ chỉ là một ý tưởng “thị trường ngách” ngay cả trong những dự báo dài hạn, xe điện đã tiến đến một vị thế mà nhiều người tin rằng loại phương tiện này sẽ dần cướp đi phần lớn thị phần của xe hơi sử dụng động cơ đốt trong truyền thống. Có nhiều lý do cho điều này – trong đó, chính sách và các tác nhân thị trường đang củng cố cho nhau để mang cuộc cách mạng xe điện đến ngày càng gần hơn.
Giá dầu sẽ chỉ còn... 10 USD/thùng vì xe điện và Trung Quốc?
Theo bộ phận Tài chính Năng lượng mới của Bloomberg (BNEF), giá pin giảm đã làm cho xe điện có tính cạnh tranh hơn nhiều, và xe điện có thể sẽ rẻ hơn các loại xe chạy bằng xăng hoặc dầu diesel vào những năm 2025 – 2029. BNEF dự báo rằng xe điện sẽ chiếm hơn phân nửa doanh số xe hơi chậm nhất là vào năm 2040.

Tuy nhiên, chính sách từ các Chính phủ có thể làm cho xu hướng này diễn ra nhanh hơn. Anh và Pháp đã công bố một giai đoạn “xóa sổ” động cơ đốt trong, cấm bán loại xe này vào năm 2040. Trung Quốc và Ấn Độ cũng đã thông báo những bước đi “ướm thử” theo chiều hướng đó, mà nếu như được chốt lại sẽ làm thay đổi hoàn toàn cuộc chơi.
Đọc thêm

Thứ Tư

Broken Window Fallacy: Liệu chiến tranh có tốt cho nền kinh tế không?

Ngụy biện Cửa sổ vỡ (Broken Window Fallacy) có thể dễ dàng bắt gặp trong các chương trình vận động tài trợ từ chính phủ của các chính trị gia. Có những dẫn chứng tưởng chừng như rất logic và khoa học nhưng người nghe không biết rằng một nửa sự thật đã bị che đậy. Bằng cách khai thác những yếu tố không nhìn thấy, người lập luận có thể dễ dàng dẫn dắt người nghe đi theo quan điểm của mình. Vậy thế nào là Ngụy biện Cửa sổ vỡ? Cách tốt nhất để giải thích cho thuyết này là sử dụng chủ đề chiến tranh. Vì thế, tôi sẽ bắt đầu bài viết này bằng câu hỏi: “Liệu chiến tranh có tốt cho nền kinh tế không?”.

Ai cũng biết chiến tranh luôn mang lại đau thương cho nhân loại. Nhưng có một câu chuyện hoang đường là chiến tranh, bằng cách nào đó, có thể giúp thúc đẩy nền kinh tế. Và một số người đã tìm được những lập luận, bằng chứng có vẻ như ủng hộ cho câu chuyện hoang đường trên. Tất nhiên, không ai muốn chiến tranh xảy ra. Và nhiều người tự an ủi “trong cái rủi có cái may” rằng chiến tranh sẽ tạo ra nhiều việc làm, hay cho rằng chiến tranh cũng là một cách để thúc đẩy kinh tế. Thực tế, niềm tin vào thứ nghịch lý này xuất phát từ cách tư duy kinh tế sai lầm.
Broken Window Fallacy: Liệu chiến tranh có tốt cho nền kinh tế không?
Chiến tranh giúp thúc đẩy nền kinh tế?

Lập luận “chiến tranh giúp thúc đẩy nền kinh tế” như sau: Giả sử nền kinh tế đang chạm đáy tại chu kỳ suy thoái, lúc này thất nghiệp tăng cao và chi tiêu tiêu dùng giảm. Nhưng sau đó, đất nước bắt đầu chuẩn bị cho chiến tranh. Chính phủ sẽ cần phải trang bị cho quân đội vũ khí, đạn dược, vật dụng cần thiết để chiến thắng cuộc chiến. Nhiều doanh nghiệp sẽ nhận được những bản hợp đồng “béo bở” từ việc cung cấp trang thiết bị cho quân đội, dẫn đến tăng nhanh nhu cầu thuê lao động để phục vụ sản xuất, từ đó làm giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp. Nhiều người có việc làm đồng nghĩa chi tiêu tiêu dùng sẽ tăng lên. Chi tiêu càng nhiều sẽ càng thúc đẩy khu vực bán lẻ, và khu vực bán lẻ sẽ phải tuyển thêm nhiều nhân viên nữa để mở rộng kinh doanh, tỷ lệ thất nghiệp vì thế sẽ càng giảm hơn nữa.

Một hoạt động tích cực đã được tạo ra bởi chính phủ trong quá trình chuẩn bị cho chiến tranh. Bạn có tin vào câu chuyện đó không? Nếu có, bạn đã mắc phải một lỗi ngụy biện mà các nhà kinh tế học thường gọi là Ngụy biện Cửa sổ vỡ (Broken Window Fallacy). Câu chuyện trên là một thiếu sót rất lớn về mặt logic, vì nó chỉ nêu ra những thứ có thể nhìn thấy, chứ không nói ra những thứ mà ta không thấy.
Đọc thêm

Thứ Bảy

Bàn về chiến lược phát triển và làm giàu của quốc gia

Một cộng đồng dân tộc giàu mạnh thực sự phải giàu mạnh bằng chính sự làm giàu chân chính của mỗi thành viên. Muốn vậy phải có một chiến lược quốc gia đúng đắn về phát triển và làm giàu.

Kết quả tăng trưởng kinh tế thường được đo lường bằng sự gia tăng khối lượng sản phẩm và dịch vụ được tạo ra bởi người dân của một vùng lãnh thổ (GNP - Tổng sản lượng quốc dân) hay bởi tất cả cư dân bao gồm cả người nước ngoài cư trú tại vùng lãnh thổ đó (GDP - Tổng sản lượng nội địa) trong một thời điểm nhất định, thường là một năm.

Sự tăng trưởng đó được xem là sự giàu có tăng thêm mỗi năm của một cộng đồng, thí dụ một quốc gia hay một thành phố. Và vì sự gia tăng giá trị sản phẩm và dịch vụ có phần đối ứng tương đương là thu nhập, người ta cũng có thể dựa vào kết quả đó để tính mức thu nhập bình quân đầu người tăng thêm trong năm của mỗi cư dân trong cộng đồng, bằng cách chia GNP cho số dân của cộng đồng đó. Phép tính này khá đơn giản, tuy nhiên có thể dẫn đến hiểu lầm là sự giàu có tăng thêm của toàn thể cộng đồng là kết quả tổng cộng của sự giàu có tăng thêm của mỗi cá nhân trong cộng đồng, trong khi trên thực tế, sự giàu lên của cộng đồng được tính bằng tốc độ tăng trưởng của GNP hằng năm có những ảnh hưởng khác biệt, tích cực hay tiêu cực, đối với thu nhập và tài sản của mỗi cá nhân hay nhóm cá nhân thành viên của cộng đồng. Hiện tượng so le đó tạo nên một trong những khác biệt giữa trạng thái được gọi là tăng trưởng kinh tế và trạng thái được gọi là phát triển kinh tế, và các nhà phân tích kinh tế đã chỉ ra rằng ở nhiều nước dù nền kinh tế có tăng trưởng nhưng không có phát triển vì chất lượng tăng trưởng quá thấp.
Bàn về chiến lược phát triển và làm giàu của quốc gia
Tổng sản lượng quốc dân (GNP) của một nước theo số liệu thống kê có thể tăng đều mỗi năm, thu nhập bình quân đầu người (GNP per capita) cũng tăng theo, không có nghĩa là mỗi người dân trong quốc gia đó sẽ giàu lên theo cùng một tỷ lệ. Rất nhiều kết quả nghiên cứu tại các nền kinh tế đã phát triển hay đang phát triển cho thấy rằng tại nhiều nước, mặc dù tổng sản lượng quốc dân GNP tăng đều mỗi năm và thu nhập bình quân đầu người được ghi nhận theo kết quả thống kê là tăng, vẫn có nhiều người, nhiều hộ gia đình, nhiều khu vực - phổ biến là khu vực nông thôn - bị nghèo đi. Số người này ngày càng chiếm đa số, thường được gọi là đa số kém ưu đãi, là nhóm người được thừa hưởng ít nhất các kết quả của tăng trưởng kinh tế.

Tình trạng nghèo đi này được nhìn nhận theo hai cách. Về mặt tương đối, tuy mức thu nhập và tài sản danh nghĩa được tính bằng tiền của một bộ phận thuộc nhóm kém ưu đãi hiện nay có khá hơn trước đây so với chính họ, nhưng tốc độ khá lên của họ lại chậm hơn rất nhiều so với các nhóm thu nhập khác, do đó trong tương quan so sánh động, nhóm này vẫn bị nghèo đi vì cuối cùng, lạm phát sẽ hút mất phần chênh lệch danh nghĩa của họ. Về mặt tuyệt đối, còn có một bộ phận khác kém may mắn hơn lâm vào hoàn cảnh thực sự nghèo hơn chính họ trước đây - thu nhập ít hơn, tài sản giảm hơn - do nhiều lý do: công việc làm ăn thất bại dẫn tới phá sản, con cái đông hơn khiến thu nhập bình quân của gia đình giảm thấp, con cái không được ăn học do đó không tìm được việc làm, ruộng đất canh tác giảm dần do tiến trình đô thị hóa... Hệ quả của quá trình nghèo đi theo cả hai cách tương đối và tuyệt đối của đa số kém ưu đãi trong cộng đồng là khoảng cách giàu nghèo giữa họ và những nhóm khác ngày càng mở rộng ra, được thấy rõ nhất là giữa nông thôn và thành thị.
Đọc thêm

Thứ Tư

Amazon - 'Quái vật' đáng sợ đang dần ‘nuốt trọn’ nước Mỹ

Cuối tuần trước, Amazon tuyên bố họ sẽ mua Whole Foods Market trong một thương vụ trị giá hơn 13 tỷ USD. Khoảng 1 giờ sau, cổ phiếu của Amazon đã tăng khoảng 3%, kéo theo giá trị thị trường tăng thêm 14 tỷ USD.

Như vậy về cơ bản, Amazon vừa mua chuỗi cửa hàng bán lẻ lớn thứ 6 nước Mỹ "hoàn toàn miễn phí"!

Theo phóng viên tài chính kỳ cựu Ben Walsh đây là một trường hợp ngoại lệ. Bình thường, giá cổ phiếu công ty đi thâu tóm sẽ giảm sau những thương vụ lớn nhưng Amazon thì ngược lại. Điều này chỉ có thể được giải thích rằng các nhà đầu tư dường như đang tin tưởng chắc chắn sẽ có một điều gì đó xảy ra với Amazon? Vậy đó có thể là gì?
Amazon - 'Quái vật' đáng sợ đang dần ‘nuốt trọn’ nước Mỹ
Từ góc nhìn đơn giản nhất, thương vụ mua lại Whole Foods đồng nghĩa với việc Amazon sẽ tham gia vào mảng kinh doanh cửa hàng thực phẩm trị giá 700 tỷ USD. Bản thân Jeff Bezos – chủ tịch và CEO công ty đã tính toán, xâm nhập thị trường này trong nhiều năm nay – từ việc ra mắt Amazon Fresh - một dịch vụ vận chuyển thực phẩm tận nhà đến mở hàng loạt cửa hàng rượu vang mang thương hiệu Amazon tại Seattle. Và bây giờ, Bezos còn sở hữu một trong những thương hiệu nổi tiếng nhất trong ngành công nghiệp này.

Tuy nhiên, gác lại tất cả những điều đó, việc giá cổ phiếu tăng sau thương vụ thâu tóm lớn cho thấy một vấn đề đáng lo ngại hơn: Một khối lượng đáng kinh ngạc quyền lực kinh tế đang tập trung vào Amazon và các chuyên gia cho rằng điều đó khiến các công ty khác trong lĩnh vực bán lẻ khó cạnh tranh mà rộng hơn nữa là cả nền kinh tế Mỹ.
Đọc thêm

Thứ Sáu

Làm sao tích luỹ được khi tôi thường tiêu hết thu nhập của mình?

Để tiết kiệm được, cần phải có quyết tâm, cần phải nghĩ đến tương lai của chính mình. Ngày nay mình có iPhone, iPad, AirBlade, TV LED 3D thật thích nhưng 35 năm sau mình có mười mấy tỉ đồng để sống không? Nếu không có hàng chục tỉ đồng thì mình có dám mua gói thuốc chuột uống không? Khi về hưu mỗi ngày mình đi tập thể dục, đánh cờ, chụp hình phong cảnh hay là mình đi bán vé số từ sáng đến tối?

Khi đã có quyết tâm tích luỹ cho tương lai chính mình rồi, hãy lập một kế hoạch tài chính khả thi. Để lập kế hoạch tài chính thì bạn phải biết tiền của bạn đang đi đâu hết. Bạn phải:
Làm sao tích luỹ được khi tôi thường tiêu hết thu nhập của mình?

  • ghi chép mọi khoản thu-chi của mình,
  • phân loại các khoản chi,
  • sắp xếp mức độ ưu tiên của các khoản chi,
  • giảm bớt những khoản chi ít cần thiết như thời trang, nhậu, du lịch…
  • thay đổi thói quen tiêu dùng, dùng những thứ bền rẻ
  • tránh bị mất tiền vào tay cướp đêm cũng như cướp ngày (bạn có nhớ cướp đêm là giặc, cướp ngày là gì không?)
  • mua bảo hiểm y tế và bảo hiểm tai nạn
Đọc thêm

Thứ Tư

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 nông dân bị vỡ nợ và phá sản

Khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đây là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Đó là cuộc khủng hoảng sản xuất “ thừa”, bởi vì sự sản xuất bừa bãi, ồ ạt chạy theo lợi nhuận trong những năm ổn định của chủ nghĩa tư bản 1924-1929 đã dẫn đến tình trạng hàng hoá ế thừa vì sức mua của quần chúng đã bị giảm sút nhiều do sự bóc lột tàn tệ của giai cấp tư sản. Trước hết để hiểu về nền kinh tế và cuộc khủng hoảng chúng ta đi tìm hiểu về nó trước:

Diễn biến cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933

- Tháng 9-1929, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ, là nước tư bản giàu nhất. Sản lượng công nghiệp ở Mĩ giảm 50%, trong đó gang, thép sụt xuống 75%, ô tô giảm 90%, 11500 xí nghiệp nhỏ và cả những xí nghiệp lớn bị phá sản. Nông thôn cũng bị tác động mạnh mẽ.
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933, một bài học tốt cho các nước đang phát triển
Để nâng cao giá hàng hoá và thu nhiều lời, các nhà tư bản kếch sù đã tiêu huỷ hàng hoá : cà phê, sữa, lúa mì, thịt, ...v.v... bị đốt hay đổ xuống biển chứ không được bán hạ giá.

Cuộc khủng hoảng lan rộng đến các nươc` tư bản chủ nghĩa khác. Ở Anh, sản lượng gang năm 1931 sụt mất 50% , thép cũng sụt gần 50% , thương nghiệp sụt 60%. Ở Pháp, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ cuối năm 1930và kéo dài đến năm 1936, sản lượng công nghiệp giảm 30%, nông nghiệp 40%, ngoại thương 60%, thu nhập quốc dân 30%. Ở Đức, đến năm 193, sản lượng công nghiệp giảm 77%. Ở các nước Ba Lan, Ý, Ru-ma-ni, Nhật, ... đều có khủng hoảng kinh tế.
Đọc thêm

Chủ Nhật

Giá lợn xuống thấp quá mức nên huy động giải cứu hay cư xử kiểu Mỹ?

Nhiều người học kinh tế có lẽ không quên về cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đây là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Đó là cuộc khủng hoảng sản xuất “ thừa”, bởi vì sự sản xuất bừa bãi, ồ ạt chạy theo lợi nhuận trong những năm ổn định của chủ nghĩa tư bản 1924-1929 đã dẫn đến tình trạng hàng hoá ế thừa vì sức mua của quần chúng đã bị giảm sút nhiều do sự bóc lột tàn tệ của giai cấp tư sản. Trước hết để hiểu về nền kinh tế và cuộc khủng hoảng chúng ta đi tìm hiểu về nó trước:

Diễn biến cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933

- Tháng 9-1929, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ, là nước tư bản giàu nhất. Sản lượng công nghiệp ở Mĩ giảm 50%, trong đó gang, thép sụt xuống 75%, ô tô giảm 90%, 11500 xí nghiệp nhỏ và cả những xí nghiệp lớn bị phá sản. Nông thôn cũng bị tác động mạnh mẽ.
Giá lợn xuống thấp quá mức nên huy động giải cứu hay cư xử kiểu Mỹ?
Để nâng cao giá hàng hoá và thu nhiều lời, các nhà tư bản kếch sù đã tiêu huỷ hàng hoá : cà phê, sữa, lúa mì, thịt, ...v.v... bị đốt hay đổ xuống biển chứ không được bán hạ giá.

Cuộc khủng hoảng lan rộng đến các nươc` tư bản chủ nghĩa khác. Ở Anh, sản lượng gang năm 1931 sụt mất 50% , thép cũng sụt gần 50% , thương nghiệp sụt 60%. Ở Pháp, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ cuối năm 1930và kéo dài đến năm 1936, sản lượng công nghiệp giảm 30%, nông nghiệp 40%, ngoại thương 60%, thu nhập quốc dân 30%. Ở Đức, đến năm 193, sản lượng công nghiệp giảm 77%. Ở các nước Ba Lan, Ý, Ru-ma-ni, Nhật, ... đều có khủng hoảng kinh tế.
Đọc thêm