Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc Tây. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc Tây. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy

Tìm hiểu về Nhà Thuốc Thân Thiện vừa khai trương tại Hà Nội và Lâm Đồng?

Trong thị trường thuốc tây y hiện nay có vô vàn nhà thuốc và những đơn vị bán thuốc chuyên nghiệp khác nhau. Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về một nhà thuốc mới có tên là Thân Thiện. Vậy nhà thuốc này có gì hay và hấp dẫn đến mức blogcamxuc.net viết reviews? Hãy cùng theo dõi:

Nhà thuốc vì cộng đồng!


Nhà thuốc Thân Thiện hướng tới giá trị cộng đồng cao cả, vì vậy nhà thuốc thường xuyên tặng sản phẩm cũng như tài trợ thuốc và các vật phẩm cho các chương trình từ thiện của Báo, Xã, Phường và những vùng gặp khó khăn.
Tìm hiểu về Nhà Thuốc Thân Thiện vừa khai trương tại Hà Nội và Lâm Đồng?

Chất lượng thuốc đạt chuẩn!


Quý vị thường nghe đến các chuẩn như GPP hay chuẩn nào đó thì nhà thuốc Thân Thiện cũng đạt chuẩn cơ bản đó. Không chỉ vậy đây còn là nhà thuốc có hệ thống tủ kính, nhận diện thương hiệu rõ ràng, đầu tư bài bản, sắc nét. 
Đọc thêm

Thứ Sáu

Thuốc trợ tim (Tây Y)

Thuốc trợ tim có tác dụng làm tăng lực bóp của cơ tim, dùng trong trường hợp suy tim.

Có thể chia thành 2 nhóm:

1. Thuốc glycosid dùng trong suy tim mạn; 


Digitalisn purpurea (thành phần chính là digitoxigenin), strophanthus (với glycosid là strophantin và genin là strophantidin). thevetin (hoạt chất lấy từ quả thông thiên), neriolin (hoạt chất lấy từ cây trúc đào).

2. Thuốc không phải là glycosid dùng trong suy tim cấp: 


- Các thuốc cường beta gây tiết adrenalin (như isoprenalin, dobutamin).
- Các thuốc phong toả men phospho-diesterase: dẫn xuất của biperindin (amrinon), dẫn xuất của imidazonlon (perfan, enoximon).
Cây trúc đào
- Các thuốc khác: Spartein, campho.
Các thuốc trên không có tác dụng không mon muốn:

- Các glycosid cường tim gây: chán ăn, buồn nôn, nôn, rối loạn thị giác (digoxin, digitoxin, D-strophantin...).
- Các thuốc chẹn beta tiết adrenalin ức chế co bóp của tim.

A. Tìm hiểu về cây trúc đào


Trúc đào là một cây nhỡ, có thể cao tới 4-5m, mọc riêng lẻ hay có khi trồng thành bụi. Cành mềm dẻo. Lá mọc đối hay mọc vòng từng 3 lá một, thuộc loại lá đơn, mép nguyên, cuống ngắn, phiến lá hình mác, dài 7-20cm, rộng từ 1-4cm, dai cứng, mặt trên màu xanh thẫm, mặt dưới màu nhạt hơn, gân đều, song song ngang hai bên gân chính. Hoa màu hồng hay màu trắng, mọc thành xim ngù ở đầu cành. Quả gồm 2 đại, gầy, trongchứa rất nhiều hạt có nhiều lông.

Thành phần hoá học: 


Trong các bộ phận của cây đều chứa chất nhựa màu kem, vàng vàng rồi hóa lục. Trong lá Trúc đào người ta nghiên cứu thấy có cardenolid, oleandrin, oleasids A…F, neriolin. Trong lá còn chứa nhựa, tanin, một loại parafin, vitamin C, tinh dầu.

Đọc thêm

Thứ Năm

Thuốc chữa tăng huyết áp

Thuốc chữa tăng huyết áp sau đây được chúng tôi trích dẫn từ sách biệt dược. Thuốc được áp dụng trong điều trị và có tác dụng lâm sàng.

Tổ chức Y tế thế giới phân loại về huyết áp theo các mức độ như sau:


Giai đoạn/ độ 1: 140-159/90-99 mmHg
Giai đoạn/ độ 2: 160-179/100-109 mmHg
Giai đoạn/ độ 3: 180/110 mmHg

Bệnh tăng huyết áp theo 2 bệnh căn:


– Tăng huyết áp thứ phát: Một triệu chứng bị tôn thương ở một cơ quan trong cơ thể (thận, nội tiết, tim mạch, não vv…). Khi điều trị nguyên nhân thì huyết áp trở lại bình thường.
Thuốc chữa tăng huyết áp
– Tăng huyết áp nguyên phát: Được gọi chung là căn bệnh tăng huyết áp chưa rõ nguyên nhân gây bệnh.

Cơ chế gây tăng huyết áp rất phức tạp, vì huyết áp phụ thuộc vào lưu lượng tim và sức cản ngoại vi; các yếu tố này lại phụ thuộc vào hoạt động của hệ thần kinh trung ương, vỏ và tuỷ thượng thận, hormon chống bài niệu, tình trạng thành mao mạch… Một nguyên nhân quan trọng nữa là lòng động mạch nhỏ và mao mạch thu hẹp lại.

Vì những lý do trên thuốc dùng phải:


– Có tác động trên tất cả các khâu của cơ chế điều hoà huyết áp để làm giảm mạch, giảm lưu lượng ở tim và dẫn đến hạ huyết áp.
Đọc thêm

Thuốc ho và các thuốc dùng làm thuốc ho!

Chuyên mục này nói về các thuốc dùng làm thuốc ho, long đờm, tiêu chất nhầy, thuốc giống giao cảm dùng trị sung huyết ở mũi. Các thuốc khác dùng điều trị ho còn có các kháng histamin, thuốc giãn phế quản, thuốc tê. Các chất có tác dụng làm dịu như glycecol, sucrose cũng được sử dụng, cũng như các khí dung ẩm.

Ho là gì?


Ho được đặc chưng bởi việc thở tống ra mạnh qua thanh môn đóng kín một cách cưỡng bức làm thanh môn đột ngột mở ra, tống không khí và các chất vướng mắc không mong muốn khác ra ngoài qua khí quản. Ho có thể là do có ý thức hoặc là vô ý thức.

Ho là một cơ chế sinh lý để bảo vệ cơ thể, đồng thời có thể là triêu chứng một số bệnh. Việc điều trị triệu chứng đó có thể làm giảm ho, nhưng có những trường hợp cũng cần điều trị triệu chứng này. Liệu pháp được lựa chọn phải dựa vào viẹc đó là ho khan hay có đờm.

Ho khan không thể coi thường. Thí dụ trong những triệu chứng cảm lạnh có ho khan, thuốc ho sẽ cải thiện ít nhiều bệnh trạng, nhất là khi dùng ban đêm. Các thuốc pholcodin và dextromethorphan hay dùng đê trị ho, có tí tác dụng phụ so với codein. Tuy nhên có ít bằng chứng cho thấy là các thuốc ho này có tác dụng trong trường hợp ho nặng. Các thuốc ho có chứa codein hay các opioid khác nói chung không nên dùng cho trẻ em, và cấm dùng cho trẻ nhỏ dưới 1 tuổi.

Một chất có tiềm năng trị ho là cần cho việc điều trị chứng ho khó chữa ở thời gian cuối đời của bệnh nhân nặng, không chữa được, đó là morphin. Nhưng chất opiod này không được coi là một thuốc ho.

Ho có đờn thường có liên quan đến một số bệnh như viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, xơ hoá nang. Không dùng thuốc ho chữa nhưng chứng ho được coi như cơ chế bảo vệ cơ thể.

Các chất lỏng đờm được dùng trong ho có đờm, theo cơ chế tăng thể tích chất tiết ra ở khí quản, làm cho sợi long hay việc ho dễ thải nó ra ngoài. Tuy nhiên những bằng chứng thực tế về lợi ích của thuốc ho long đờm còn hạn chế và nhiều thầy thuốc cho rằng chúng không có hiệu quả, chỉ như palcebo. Những thuốc long đờm hay dùng có thể kể; muối amoni, guaiphenesin ipecacuanha, natri citrat. Các muối iodid cũng được dùng, nhưng có điều nghi ngại về tính an toàn khi dùng dài hạn vì có thể gây ức chế tuyến giáp; không ênn dùng cho trẻ em, thiếu niên, phụ nữ có mang, bệnh nhân bướu cổ.

Thuốc tiêu chất nhầy làm giảm độ nhớt của đờm, làm thay đổi cấu trúc của nó và cho thấy có tác dụng làm giảm ho, nhưng tác dụng trên chức năng của phôi không nhất quán. Các thuốc tiêu chất nhầy hay dùng có thể kể; acetylcystein, bromhexin, carbocystein, methylcystein. Dornase alphan có lợi cho những bệnh nhân xơ hoá nang. Về lý thuyết, thuốc tiêu chất nhầy có thể phá hỏng lớp chất nhầy bảo vệ niêm mạch dạ dày, nên cần thận rong đối với những bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày.

Thuốc trị ho


Các thuốc trị ho có thể có tác dụng qua hệ thần kinh rung ương hoặc hệ thần kinh ngoại biên, hoặc qua cả hai đường trên phản xạ ho. Các thuốc ho có tác dụng thông qua hệ thần kinh trung ương làm tăng ngưỡng của trung tâm ho ở não đối với phản xạ ho, còn các thuốc ho thông qua hệ thần kinh ngoại biên làm giảm độ nhạy cảm của các thụ thể ở khí quản. Một số thuốc có cơ chế ngoại biên gián tiếp, có thể làm thay đổi các yếu tố niêm dịch - sợi lông, gây tác dụng tê hay giảm đua trên thụ thể, bảo vệ các thụ thể chống các ích thích, hoặc tác dụng như một chất gây giãn phế quản.
Thuốc ho và các thuốc dùng làm thuốc ho!

Thuốc long đờm


Các thuốc long đờm làm tăng thể tích các dịch tiết ở dường hô hấp, nên làm cho dễ đào thải do tác dụng của sợi lông và do ho. Một số thuốc, như ipecacuanha, muối amoni, một số tinh dầu, và một số hợp chất củ iod có thể có tác dụng như trên do cơ chế gây kích thích niêm mạc dạ dày.

Thuốc tiêu chất nhầy


Các thuốc tiêu chất nhầy làm thay đổi cấu trúc của niêm dịch, làm giảm độ nhớt, nên dễ đào thải qua tác dụng của sợ lông.

Các chất acetylcystein, carbocystein, metylcystein và stepronin đều có nhóm SH (thiol). Nếu nhóm này, là tự do như trong acetylcystein, nó có thể thế chỗ trong liên kết disulid ở niêm dịch và cắt đứt chuỗi phân tử niêm dịch. Tuy nhiên, các thuốc như carbocystein thì nhóm thiol được bảo vệ và không thể tham gia phản ứng trên và cơ chế tác dụng của nó còn chưa được biết rõ. Nhóm thiol của các hợp chất này cũng có liên quan đến có chế tác dụng của chúng khi dùng làm thuốc chống độc.

Các deoxyribonuclease, như dornase alpha có tác dụng tiêu chất nhầy do làm thuỷ phân DNA ngoại bào tích luỹ do sự tiêu huỷ các bạch cầu trung tính, tạo ra chất nhầy ở khí quản có xơ hoá nang.

Sung huyết mũi?


Sung huyết mũi là một triệu chứng hay gặp ở rạng thái bệnh lý như viêm mũi. Việc điều trị có thể dùng các kháng histamin, các thuốc giống giao cảm, các corticosteroid, các kháng muscarin, cromoglycat hoạc nedocromil.

Nguồn: https://nhathuocthanthien.com.vn
Đọc thêm